Ngày 30-10-2014

Trang chủ | Diễn đàn | SiteMap | Bản đồ VN | English

  Tin tức - Sự kiện

  Phổ biến kiến thức

  Văn bản pháp quy

  Hệ thống CTNH 2.0

  Hỏi - Đáp về CTNH

  Công nghệ XL CTNH

  Ảnh-Video-Multimedia

 

Services



See net-traffic
www.chatthainguyhai.net
Tin tức và Sự kiện

Vấn đề về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam


Theo dự báo, Việt Nam sẽ là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế vào loại nhanh trên thế giới với tốc độ tăng trưởng được dự báo là 7% trong thập kỷ tới. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng và mạnh mẽ cũng đồng thời sẽ tạo nên những thách thức không lường trước được về mặt môi trường, trong đó, tác động của chất thải rắn và nước thải đang là vấn đề nổi cộm ở Việt Nam.

Riêng về chất thải rắn, ước tính mỗi năm có hơn 15 triệu tấn chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau ở Việt Nam. Khoảng hơn 80% số này (tương đương 12,8 triệu tấn/năm) là chất thải phát sinh từ các hộ gia đình, các nhà hàng, khu chợ và khu kinh doanh. Tổng lượng chất thải phát sinh từ các cơ sở công nghiệp mỗi năm khoảng 2,6 triệu tấn (chiếm 17%), Các chất thải nguy hại (trong đó bao gồm cả chất thải y tế nguy hại, các chất dễ cháy và chất độc hại phát sinh từ các quá trình sản xuất công nghiệp, và các loại thuốc trừ sâu, thùng chứa thuốc trừ sâu phục vụ các hoạt động nông nghiệp) chiếm 1% trong tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam. Mặc dù phát sinh với khối lượng ít, song nếu không được quản lý tốt thì với các tính chất độc hại, chất thải nguy hại sẽ là mối hiểm họa lớn đối với sức khỏe người dân và môi trường.

Thông tin chung về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam

Mức phát sinh chất thải sinh hoạt (tấn/năm)

- Toàn quốc 12.800.000

- Các vùng đô thị 6.400.000

- Các vùng nông thôn 6.400.000

Chất thải nguy hại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp (tấn/năm) 128.400

Chất thải không nguy hại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp (tấn/năm) 2.510.000

Chất thải y tế nguy hại (tấn/năm) 21.000

Chất thải nguy hại phát sinh từ nông nghiệp (tấn/năm) 8.600

Lượng hóa chất nông nghiệp tồn lưu (tấn) 37.000

Lượng phát sinh chất thải sinh hoạt (kg/người/ngày)

- Toàn quốc 0,4

- Các vùng đô thị 0,7

- Các vùng nông thôn 0,3

Thu gom chất thải (% trong tổng lượng phát sinh)

- Các vùng đô thị 71%

- Các vùng nông thôn < 20%

- Đô thị nghèo 10 - 20%

Số lượng các cơ sở xử lý chất thải rắn

- Bãi rác và bãi chôn lấp không hợp vệ sinh 74

- Bãi chôn lấp hợp vệ sinh 17

Năng lực xử lý chất thải y tế nguy hại (% tổng lượng) 50%

Các khu đô thị tuy có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước). Chất thải ở các vùng đô thị thường có tỷ lệ các thành phần nguy hại lớn hơn như các loại pin, các loại dung môi sử dụng trong gia đình và các loại chất thải không phân hủy như nhựa, kim loại và thủy tinh. Ngược lại, lượng phát sinh chất thải sinh hoạt của người dân ở các vùng nông thôn chỉ bằng một nửa mức phát sinh chất thải của dân đô thị (0,3 kg/ người/ ngày so với 0,7 kg/ người/ ngày) và phần lớn đều là chất thải hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm 99% trong phế thải nông nghiệp và 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn, trong khi chỉ chiếm cỡ 50% trong chất thải sinh hoạt ở các khu đô thị.

Chất thải công nghiệp chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp đô thị phát triển: Khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam. 50% lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và 30% phát sinh ở các vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Thêm vào đó, gần 1.500 làng nghề mà chủ yếu là tập trung ở các vùng nông thôn miền Bắc mỗi năm phát sinh khoảng 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy hại.

Chất thải nguy hại là mối hiểm họa ngày càng lớn. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp (130.000 tấn/năm) và các bệnh viện (21.000 tấn/năm). Ngoài ra, nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh chất thải nguy hại, mỗi năm phát sinh khoảng 8.600 tấn các loại thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu và khoảng 37.000 tấn hóa chất tồn lưu bao gồm các loại hóa chất nông nghiệp bị thu giữ và thuốc trừ sâu quá hạn sử dụng. Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở các vùng khác nhau khác biệt rõ rệt, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công nghiệp. Lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước. 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa trong khi đó, chất thải nguy hại từ nông nghiệp chủ yếu phát sinh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Xử lý chất thải, bao gồm các hoạt động tái sử dụng, tái chế, thu gom, xử lý và tiêu hủy, là khâu rất quan trọng có tính quyết định đối với việc tạo lập được một hệ thống quản lý chất thải hiệu quả để có thể giảm thiểu các rủi ro đối với môi trường và sức khỏe người dân. Phần lớn chất thải sinh hoạt ở Việt Nam không được tiêu hủy một cách an toàn, tuy nhiên, hoạt động của các công ty môi trường đô thị (URENCO), là cơ quan được giao trách nhiệm thực hiện thu gom và tiêu hủy chất thải sinh hoạt, đã có những cải tổ đáng kể. Xử lý một cách hợp lý chất thải nguy hại được quy định là trách nhiệm của các cơ sở y tế và công nghiệp, tuy nhiên việc triển khai thực hiện vẫn còn hạn chế. Tái chế và tái sử dụng chất thải là một ngành công nghiệp năng động ở Việt Nam, với một mạng lưới gồm những người nhặt rác ở các bãi chôn lấp, các cơ sở thu gom và thu mua chất thải thuộc khu vực tư nhân.

Hoạt động thu gom chất thải rắn ở các thành phố đang được cải thiện nhưng ở các vùng nông thôn vẫn còn rất hạn chế. Nhìn chung, các thành phố lớn có tỷ lệ thu gom chất thải ở mức cao hơn (76%) so với các thành phố nhỏ (70%) trong khi ở các vùng nông thôn tỷ lệ thu gom nhìn chung thấp hơn 20%. Một tỷ lệ lớn người nghèo không được hưởng các dịch vụ thu gom chất thải rắn. Hiện đang có nhiều sáng kiến mới nhằm cải thiện tình trạng thiếu các dịch vụ thu gom chất thải đô thị. Ví dụ: các chương trình thu gom chất thải dựa vào cộng đồng hoặc do khu vực tư nhân đảm nhiệm

Các phương thức tiêu hủy chất thải sinh hoạt đang được cải tiến nhưng vẫn còn là mối hiểm họa đối với sức khỏe và môi trường. Hình thức tiêu hủy chất thải phố biến vẫn là đổ thải ở các bãi rác lộ thiên và trong số này có 49 bãi rác bị xếp vào số các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất, có khả năng cao gây ra những rủi ro đối với môi trường và sức khỏe con người. Trong số 91 điểm tiêu hủy chất thải trong cả nước, chỉ có 17 điểm là các bãi chôn lấp hợp vệ sinh mà phần lớn đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. ở nhiều vùng, việc áp dụng các phương pháp tự tiêu hủy chất thải như đốt, hoặc chôn chất thải, đổ bỏ ra các con sông, kênh, rạch và các khu đất trống khá phổ biến. Các bãi chôn lấp được vận hành không đúng kỹ thuật và các bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn đề môi trường cho dân cư quanh vùng như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm mùi, ruồi, muỗi, chuột, bọ, ô nhiễm bụi và tiếng ồn và làm tăng tỷ lệ người bị mắc các bệnh về da, tiêu hóa và hô hấp.

Các hệ thống xử lý chất thải công nghiệp nguy hại còn chưa đầy đủ: Thiếu các cơ sở xử lý tập trung và các cơ chế khuyến khích để thúc đẩy thực hiện các biện pháp tiêu hủy an toàn .

Năng lực xử lý chất thải y tế nguy hại đang được tăng cường nhưng bị hạn chế do việc vận hành không đúng kỹ thuật.

Xử lý các hóa chất nông nghiệp tồn lưu: Gần một nửa lượng chất thải là các hóa chất dùng trong nông nghiệp tồn lưu ở các kho chứa đã được xử lý trong năm 2002 bằng cách thiêu đốt hoặc là bằng các kỹ thuật hóa học.

Tái chế chất thải là phương thức xử lý khá phổ biến ở Việt Nam: Các hộ gia đình thường có thói quen chọn các loại chất thải có khả năng tái chế được như kim loại và giấy để bán cho những người thu mua đồng nát (ve chai) hoặc là bán thẳng cho các cơ sở thu mua trong vùng. Các loại chất thải có khả năng tái sử dụng và tái chế còn được phân loại và sau đó đem bán cho các cơ sở tái chế. Thị trường tái chế ở Việt Nam khá sôi động mà phần lớn là do khu vực tư nhân kiểm soát. Ví dụ, ở Hà Nội thị trường này cho phép thực hiện tái chế với khoảng 22% lượng chất thải phát sinh. Trong lĩnh vực công nghiệp, một số ngành công nghiệp có khả năng thực hiện tái chế được đối với 80% lượng chất thải của ngành. Những người thợ thủ công mỹ nghệ và công nhân làm việc trong các làng nghề đã rất thành công trong việc tái chế và tái sử dụng trên 90% chất thải rắn có khả năng tái chế được của cơ sở mình.

Thị trường các chất thải tái chế được rất có tiềm năng mở rộng: ở Việt Nam, khoảng 32% tổng lượng chất thải sinh hoạt đô thị (tương đương với 2,1 triệu tấn/năm) hiện đang được đem tiêu hủy lại là các chất thải có khả năng tái chế được như giấy, nhựa, kim loại và thủy tinh. Nếu tiến hành tái chế lượng chất thải này thì sẽ có khả năng giảm một cách đáng kể chi phí tiêu hủy chất thải và tạo cơ hội giúp khu vực tư nhân và rất nhiều người nghèo có thêm nguồn thu từ việc bán các vật liệu tái chế. Chỉ riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh, ước tính, doanh số thu được từ hoạt động tái chế mỗi năm có thể lên đến gần 135 tỷ đồng.

Tỷ lệ chất hữu cơ (trong chất thải sinh hoạt) cao là yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện chế biến chất thải thành phân compost mà nhờ đó có thể giảm thiểu được chi phí tiêu hủy nếu như sản xuất được các loại phân bón phù hợp với các điều kiện thị trường, ví dụ để sử dụng trong nông nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn chưa được phổ biến rộng rãi do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó bao gồm cả vấn đề chất lượng nguyên liệu đầu vào cho chế biến phân còn kém và các hoạt động tiếp thị chưa được thực hiện tốt. Hiệu quả của việc triển khai các cơ sở chế biến phân compost tập trung sẽ tăng lên đáng kể nếu chúng ta thúc đẩy phát triển thị trường phân compost và thực hiện thành công việc phân loại chất thải tại nguồn.

Theo Bộ công nghiệp

  Back to Prev Quay lại
* Mục lục tin:
id_1455 (#1279) Sản xuất thành công trạm quan trắc nước thải tự động - 27/12/2007
id_1454 (#870) Quảng Ngãi tập trung xử lý dầu tràn ra biển - 27/12/2007
id_1453 (#1187) Hiểm họa từ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật - 27/12/2007
id_1452 (#1191) Thép phế liệu: Buộc tái xuất là có căn cứ pháp lý - 27/12/2007
id_1451 (#4110) Hiện trạng ô nhiễm môi trường chất thải rắn - 27/12/2007
id_1450 (#1099) Quảng Ngãi: Hai chiếc tàu đâm nhau, làm hơn 170 mét khối dầu diezel tràn ra biển - 25/12/2007
id_1449 (#1465) Rác ứ ngập thành phố Tam Kỳ - 25/12/2007
id_1448 (#1301) Vật liệu xây dựng cồng kềnh, khối lượng lớn, dễ gây bụi không được bày bán tại các phố trung tâm - 25/12/2007
id_1447 (#1069) Hà Nội: Chương trình giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học đạt hiệu quả cao - 25/12/2007
id_1446 (#994) Lào Cai: 2 cơ sở sản xuất công nghiệp được chứng nhận xử lý ô nhiễm triệt để - 25/12/2007
id_1445 (#1137) Thanh niên Phú Thọ với công tác giáo dục dân số, sức khỏe và môi trường - 18/12/2007
id_1444 (#2275) Quản lý chất thải rắn và sản xuất phân Compost dựa vào cộng đồng - 17/12/2007
id_1443 (#1581) Kiểm soát việc nhập khẩu rác thải phải “ngay từ nguồn“ - 17/12/2007
id_1442 (#1015) Kiên Giang: Tái diễn tình trạng vứt rác thải xuống sông - 17/12/2007
id_1441 (#1068) "Sạch như bệnh viện..." ? - 17/12/2007
id_1440 (#962) TP.HCM: Sáng kiến vì đường phố không rác - 17/12/2007
id_1439 (#1084) Hà Tây: Những bức xúc quanh dự án mở rộng khu xử lý rác thải Sơn Tây và vùng phụ cận - 17/12/2007
id_1438 (#1029) Hà Tây: Hai bệnh viện lớn nhất đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải y tế - 13/12/2007
id_1437 (#964) Ở đâu có Đoàn, Hội, Đội, ở đó có hoạt động bảo vệ môi trường - 13/12/2007
id_1436 (#803) Nhiều doanh nghiệp ở Phú Thọ chấp nhận phạt chứ không đầu tư hệ thống xử lý chất thải - 13/12/2007   Back to Page 51  Next to Page 53

Mục tin khác:
Tin nổi bật
  • 10 cảnh báo về an ninh môi trường Việt Nam (1962)
  • Triển lãm VietWater 2012 tại Hà Nội ngày 6-8/11/2012 (1843)
  • Tin hoạt động của Dự án CSR - Hội thảo chuyên đề “Quản lý hóa chất và cách thức tuân thủ các quy định quốc tế (REACH/ RoHs)” (3128)
  • Ngày 21/2/2014 giao lưu Gặp gỡ ICT Xuân Giáp ngọ và Kỷ niệm 25 năm thành lập Hội Tin học Việt Nam (1989-2014) (844)
  • Hạn chế chất nguy hại trong các sản phẩm điện và điện tử (3551)
  • Bắt giữ và lưu trữ Carbon (Carbon capture and storage - CCS) (3395)
  • 200 câu hỏi/đáp về môi trường (Q&A) (14118)
  • QUYẾT ĐỊNH 64 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ (10368)
  • Quyết Định của Thủ tướng Chính phủ ngày 29 tháng 01 năm 2007 V/v phê duyệt “Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020” (5937)
  • Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường (5261)
  • Luật Tài nguyên nước (11435)
  • Danh sách văn bản pháp quy ban hành (Bộ TN&MT) (14426)
  • LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (5148)
  • REACH: Đăng ký, Đánh giá, Cấp phép và Hạn chế Hóa chất (9817)
  • Triển khai thành công hệ thống cơ sở dữ liệu khí tượng Hàng không Gia Lâm (KTHK-net 3.0) (10913)
  • Tổng quan về hệ thống quản lý chất thải nguy hại (CTNH Sys 1.0) (15180)
  • DANH MỤC CHẤT THẢI NGUY HẠI (2/10/2006) (83333)
  • THÔNG TƯ: Quy định điều kiện về năng lực và hướng dẫn thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại (28429)
  • THỦ TỤC LẬP HỒ SƠ, ĐĂNG KÝ CHỦ NGUỒN THẢI, CẤP PHÉP HÀNH NGHỀ QLCTNH, MÃ SỐ QLCTNH (28380)
  • Triển khai thành công mạng riêng ảo tại Trung tâm Tư liệu KTTV và 9 Đài KTTV Khu vực (mạng VPN-TTTL) (5628)
  • Nghiên cứu và triển công nghệ DPS, quản lý lưới trạm và CSDL bão trên bản đồ Google Maps (2784)
  • Đầu đo mực nước ngập trong nước (Submerged Water Level Detector) (1567)
  • Catalogs sản phẩm JFE AdvanTech sử dụng trong hệ thống tích hợp Scada H (5189)
  • Danh sách các đơn vị được cấp phép hành nghề chất thải nguy hại. (18077)
  • Chỉ thị về hạn chế các chất nguy hiểm (RoHS Directives) (2578)
  • Ô nhiễm môi trường và video khiến cả thế giới im lặng (2058)
  • Cấp phép trực tuyến
    Username:
    Password: Information Đăng ký mới? -

    Hệ thống e-manifest sẽ triển khai trong thời gian sớm nhất! Luật Bảo vệ Môi trường
    Thông tư 12 về cấp phép hành nghề CTNH
    Quyết định 23 về Danh mục chất thải nguy hại
    Quyết định 23 về Danh mục chất thải nguy hại (2)
    Danh mục DN được cấp phép
    Video Clips
    CTNH thường thức
      Back to Page 51  Next to Page 53

    Câu hỏi về chất thải
    Theo Bạn chất thải nguy hại sẽ tồn tại nhiều nhất ở dạng, thể loại loại nào?
    Chất thải rắn
    Chất thải lỏng/bùn
    Chất thải khí
    Không rõ ràng
     [ Xem KQ ]

    Locations of visitors to this page

    Trở về đầu trang Tro ve dau trang  

    Số trực tuyến:
     
    Số truy nhập
    2728399

    CHATTHAINGUYHAI.NET
    Let the World be Free of Hazardous Waste
    Powered by MVC-Web CMS 1.2
    Contact email: intecom@minhviet.com.vn